TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ

I. Tìm hiểu chung:

1.Tác giả.

– Đặng Trần Côn (?…?), sống khoảng  nửa đầu thế kỷ XVIII.

– Quê: làng Nhân Mục ( Hà Nội).

Sáng tác thơ, phú bằng chữ Hán.

– Đỗ Hương cống, từng làm các chức Huấn đạo, tri huyện, Ngự sử đài chiếu khám thời Lê- Trịnh.

– Sáng tác nhiều nổi tiếng nhất là “Chinh phụ ngâm”.

2. Dịch giả.

– Đoàn Thị Điểm (1705-1748) hiệu Hồng Hà nữ sĩ. Quê: làng Gia Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (Hưng Yên).

– Sống cùng Đặng Trần Côn.

– Là một phụ nữ đẹp, có học vấn, thông minh.

– Tác phẩm: dịch Chinh phụ ngâm, viết Truyền kì tân phả- chữ Hán.

3. Chinh phụ ngâm

– Diễn biến tâm trạng người chinh phụ trong thời gian chồng đi chinh chiến; thương nhớ, buồn lo, luyến tiếc, đau khổ, oán trách, ước mơ, …

-Tiếng nói oán trách chiến tranh phi nghĩa, đòi quyền sống, quyền được hưởng hạnh phúc của con người, đặc biệt người phụ nữ.

4. Đoạn trích.

-Vị trí: từ câu 193- 228 của Chinh phụ ngâm.

-Nội dung:

+ Sau buổi tiễn đưa, người chinh phụ trở về, xót xa, lo lắng cho chồng, tự hỏi vì sau lứa đôi chia cách, vì sau bao lần hẹn hò với nhau đều không thành.

+ Không có câu trả lời nàng ái ngại cho thân và kể tâm sự của mình khi phải sống lẻ loi.

II. Đọc hiểu văn bản.

1. Nỗi cô đơn lẻ bóng của người chinh phụ: (8câu)

*Câu 1-8: “Dạo…đòi phen”

– Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước

– Ngối rèm thưa rủ thác đòi phen

-> Khắc khỏi mong chờ

– Dạo hiên, ngồi rèm, … à ra ngoài, vào trong, ban ngày , ban đêm đều cảm thấy lẻ loi.

– Trách chim thước mách tin.

– Hy vọng  đèn hiểu thấu niềm tâm sự nhưng lại thất vọng vì “đèn  có biết dường nào chẳng biết”

– “Hoa đèn kia với bóng ngưòi khá thưong” đèn với người cùng chung cảnh đáng thương.

-> khát khao đồng cảm

-> bút pháp xếp ý sóng đôi láy di láy lại, sử dụng từ đắt “gieo”:cực tả nỗi cô đơn trong cảnh lẻ loi.

2. Nỗi sầu muộn triền miên: (8 câu kế)

 

*Câu 9-12

– Từ láy: eo óc, phất phơ, đằng đẵng, dằng dặt ècó sức gợi tả cảm giác bằng âm thanh, hình ảnh.

– Gà eo óc gáy sương năm trống

– Hoè phất phơ rũ bóng bốn bên

-> đối lập giữa âm thanh và hình ảnh: dêm nghe gà gáy nhức nhối suốt năm canh, ngày nhìn hoa hoè hết rũ bên này sang bên khác

->Thời gian chờ đợi là dài vô cùng vô tận…

*Câu 13-16

– Đốt huơng-hồn mê mải

– Soi gương-lệ châu chan

– Đàn-dây uyên kinh sợ mà đứt

-phím loan ngại ngùng mà chùng

-> Tất cả hành động của nàng đều là gượng

-> Cố gắng tìm cách vượt ra khỏi vòng vây của nỗi cô đơn nhưng không thoát nổi, bất lực, ngẫn ngơ trở về với thực tại, với lòng mình.

3. Nỗi nhớ thương đau đáu (câu 17-24)

– Gió xuân: gió mùa xuân, tươi mát có thể làm dịu cảnh vật và lòng người.

– Non Yên: chỉ miền đất xa xôi nơi chồng đi chinh chiến

.-> Ước lệ, tượng trưng không gian vô tận-khoảng cách rộng lớn chia cách chinh phu-chinh phụ.

-> Ý nghĩ nên thơ: nhờ gió xuân gởi lòng mình tới chồng, tứ thơ thoát khỏi căn phòng tù túng, bát ngát không gian.

– Từ láy:

+ Thăm thẳm: sâu, xa, khuất tầm mắt, lặp lại 2 lần.

+ Đau đáu: không yên lòngdo có điều gì quan tâm, lo lắng.

– So sánh: “Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bẳng trời”

-> Nỗi nhớ nhung triền miên, kéo dài vô tận như muốn vượt không gian tìm người chia sẻ.

-Âm thanh: tiếng trùng rả rích trong bối cảnh sương đượm mưa phùn.

-> Gợi ra cái tỉnh mịch, lạnh lẽo: nỗi nhớ đẫm nước mắt làm cho lòng người đau xót.

III.Tổng kết.

1. Nghệ thuật:

  • Niềm khao khát được sống trong tình yêu, hạnh phúc cá nhân.
  • Lên án chiến tranh phi nghĩa.2. Ý nghĩa văn bản:
  • Thể thơ song thất lục bát
  • Diễn tả tâm trạng tinh tế
Tác giả: Trương Hồng Thủy